banner

Tin tức - Sự kiện

Tháo gỡ nhiều vướng mắc về hóa đơn điện tử

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA) cho rằng, Thông tư 68/2019/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành đã đáp ứng sự mong mỏi của cộng đồng doanh nghiệp (DN), giúp giải quyết nhiều vướng mắc trong việc thực hiện hóa đơn điện tử (HĐĐT).

* PV: Thưa bà, Thông tư 68/2019/TT-BTC (TT 68) hướng dẫn chi tiết Nghị định 119/2018/NĐ-CP (NĐ 119) của Chính phủ quy định về HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ đã được Bộ Tài chính ban hành, điều này có ý nghĩa như thế nào với cộng đồng DN?

- Bà Nguyễn Thị Cúc: NĐ 119 có hiệu lực từ 1/11/2018, nhưng chưa thể thực hiện được do chưa có thông tư hướng dẫn. Sau khi lấy ý kiến cộng đồng DN, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành TT 68 hướng dẫn chi tiết NĐ 119. Có thể nói, đây là vấn đề mới, phức tạp, liên quan đến cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của cơ quan thuế, cũng như của các DN, vì vậy khi lấy ý kiến cũng có nhiều phản hồi khác nhau.
Trong quá trình soạn thảo, ban soạn thảo cũng đã tiếp thu nhiều ý kiến để phù hợp với  NĐ 119, cũng như điều kiện cụ thể của DN. Do đó, việc ban hành Thông tư có chậm hơn so với các thông tư khác. Tuy nhiên, đến hôm nay thông tư cũng đã được ban hành, chứ không phải chờ đến các văn bản hướng dẫn về HĐĐT, chứng từ điện tử của Luật Quản lý thuế sửa đổi. Điều này sẽ giúp cho DN không phải chờ đợi, nghe ngóng xem khi nào có thể áp dụng HĐĐT.

* PV: Được biết, bà đã tham gia nhiều hội nghị tập huấn về chính sách thuế cho DN, cũng như các cuộc hội thảo góp ý cho dự thảo của thông tư này, những vướng mắc mà DN kiến nghị liên quan đến HĐĐT là gì?

- Bà Nguyễn Thị Cúc: Khi lập HĐĐT thường xảy ra trường hợp  ngày lập hóa đơn khác với ngày người bán ký số, ký điện tử. Tại hội thảo lấy lý kiến do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, không chỉ có DN, mà cả các đơn vị cung cấp dịch vụ về HĐĐT cũng vướng mắc về vấn đề này. Theo hướng dẫn của TT 68,  thời điểm lập HĐĐT được xác định theo thời điểm người bán ký, ký  điện tử. Như vậy, vướng mắc về thời gian xuất HĐĐT đã được xử lý.

Thứ hai, trong nội dung trên HĐĐT có các ký tự về số, đối với các hóa đơn của DN có yếu tố nước ngoài lập;  ví dụ như các dấu chấm, dấu phẩy… thì TT 68 hướng dẫn rất cụ thể, đó là mã ký hiệu ngoại tệ thì phải theo chuẩn mực quốc tế. Quy định này rất rõ ràng, tránh có những cách hiểu khác nhau.

Một điểm nữa trong nội dung HĐĐT, đó là xác định đối tượng áp dụng HĐĐT thông thường và đối tượng áp dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế. TT 68 đã hướng dẫn rất cụ thể trường hợp có rủi ro về thuế sẽ bắt buộc phải áp dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế. Mặt khác, thông tư cũng hướng dẫn như thế nào là rủi ro về thuế: Đó là DN có vốn chủ sở hữu dưới 15 tỷ đồng, không chứng minh được quyền sở hữu tài sản hợp pháp (nhà máy, kho hàng, hầm mỏ…); DN kinh doanh trong lĩnh vực khai thác tài nguyên; có giao dịch qua ngân hàng có những hành vi đáng ngờ (có dấu hiệu rửa tiền); bỏ địa chỉ kinh doanh… Đây là những tiêu chí rất cụ thể để xác định DN nào thuộc đối tượng rủi ro cao về thuế, từ đó cơ quan thuế thông báo cho DN sẽ phải sử dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế ngay từ đầu. Quy định này rất cụ thể, rõ ràng để các DN thực hiện, tránh những vướng mắc sau này.

Ngoài ra, với những HĐĐT không có chữ ký của người mua cũng được thông tư hướng dẫn rất cụ thể, được liệt kê hóa. Ví dụ, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người nước ngoài, hóa đơn điện nước… sẽ không cần chữ ký của người mua; hoặc trong nội dung HĐĐT đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt  thực hiện theo từng phần, từng hạng mục công trình bàn giao; hoặc xây nhà để bán có thu tiền theo tiến độ thì không cần phải ghi cụ thể giá trị công trình hoàn thành bàn giao trên hóa đơn.

Một nội dung khác trong thông tư đã giúp tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, đó là trong trường hợp HĐĐT có sai sót như về địa chỉ, mặt hàng… nhưng không sai mã số thuế thì người bán trao đổi với người mua để sửa đổi nội dung ghi trên hóa đơn, đồng thời thông báo cho cơ quan thuế trên hệ thống, không phải lập lại hóa đơn điều chỉnh như quy định trước đây. Trường hợp ghi sai cả mã số thuế, thuế suất thì hai bên cùng trao đổi và thông báo với cơ quan thuế để hủy hóa đơn, lập lại hóa đơn mới… Có thể nói, việc xử lý hóa đơn có sai sót đối với HĐĐT được hướng dẫn cụ thể hơn trước đây rất nhiều, điều này vừa cải cách giảm thiểu thủ tục hành chính, nhưng cũng đảm bảo được tính chính xác của hóa đơn.

Phương thức và thời điểm chuyển dữ liệu HĐĐT đối với người nộp thuế cũng được quy định cụ thể tại thông tư theo từng đối tượng rất rõ ràng: Chuyển theo bản tổng hợp cùng thời điểm nộp tờ khai thuế GTGT, chuyển trực tiếp… đây là điều DN vẫn đang chờ hướng dẫn.

* PV: Một nội dung mà cộng đồng DN cũng rất quan tâm, đó là thời điểm nào người nộp thuế phải áp dụng HĐĐT? Theo NĐ 119 thì từ 1/11/2020 tất cả các DN phải chuyển sang áp dụng HĐĐT. Luật Quản lý thuế sửa đổi lại quy định từ 1/7/2022 mới phải áp dụng HĐĐT. Vậy thời gian chuyển tiếp này sẽ thực hiện như thế nào, thưa bà?

- Bà Nguyễn Thị Cúc: Đúng là thời hiệu áp dụng HĐĐT hiện nay cũng là một vấn đề DN rất quan tâm. Theo NĐ 119, thì đến 1/11/2020 các DN phải chuyển sang sử dụng HĐĐT. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi (có hiệu lực từ 1/7/2020), thì điều khoản về HĐĐT, chứng từ điện tử được áp dụng từ ngày 1/7/2022. Cho nên, một số DN đang có ý chờ đợi đến 1/7/2022 mới áp dụng HĐĐT. TT 68 cũng khẳng định lại thời hiệu, thời gian chuyển tiếp, phù hợp với NĐ 119, phù hợp với các nghị quyết của Chính phủ. Ví dụ, đối với người nộp thuế thuộc các địa bàn có hạ tầng công nghệ thông tin tốt (Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…) thì đẩy nhanh áp dụng HĐĐT trước 1/11/2020.

TT 68 (có hiệu lực 14/11/2019) cũng nêu rất cụ thể, đó là sau ngày 14/11/2019 các quy định khác hiện hành về hóa đơn theo Nghị định 51, Nghị định 04 vẫn có hiệu lực thi hành. Nhưng đến 1/11/2020 thì tất cả các văn bản quy định về hóa đơn trước đây sẽ không còn hiệu lực, phải thực hiện theo TT 68.

* PV: Xin cảm ơn bà!


Nhật Minh (thực hiện)
TBTC

 

Tháo gỡ nhiều vướng mắc về hóa đơn điện tử

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam (VTCA) cho rằng, Thông tư 68/2019/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành đã đáp ứng sự mong mỏi của cộng đồng doanh nghiệp (DN), giúp giải quyết nhiều vướng mắc trong việc thực hiện hóa đơn điện tử (HĐĐT).

* PV: Thưa bà, Thông tư 68/2019/TT-BTC (TT 68) hướng dẫn chi tiết Nghị định 119/2018/NĐ-CP (NĐ 119) của Chính phủ quy định về HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ đã được Bộ Tài chính ban hành, điều này có ý nghĩa như thế nào với cộng đồng DN?

- Bà Nguyễn Thị Cúc: NĐ 119 có hiệu lực từ 1/11/2018, nhưng chưa thể thực hiện được do chưa có thông tư hướng dẫn. Sau khi lấy ý kiến cộng đồng DN, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành TT 68 hướng dẫn chi tiết NĐ 119. Có thể nói, đây là vấn đề mới, phức tạp, liên quan đến cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của cơ quan thuế, cũng như của các DN, vì vậy khi lấy ý kiến cũng có nhiều phản hồi khác nhau.
Trong quá trình soạn thảo, ban soạn thảo cũng đã tiếp thu nhiều ý kiến để phù hợp với  NĐ 119, cũng như điều kiện cụ thể của DN. Do đó, việc ban hành Thông tư có chậm hơn so với các thông tư khác. Tuy nhiên, đến hôm nay thông tư cũng đã được ban hành, chứ không phải chờ đến các văn bản hướng dẫn về HĐĐT, chứng từ điện tử của Luật Quản lý thuế sửa đổi. Điều này sẽ giúp cho DN không phải chờ đợi, nghe ngóng xem khi nào có thể áp dụng HĐĐT.

* PV: Được biết, bà đã tham gia nhiều hội nghị tập huấn về chính sách thuế cho DN, cũng như các cuộc hội thảo góp ý cho dự thảo của thông tư này, những vướng mắc mà DN kiến nghị liên quan đến HĐĐT là gì?

- Bà Nguyễn Thị Cúc: Khi lập HĐĐT thường xảy ra trường hợp  ngày lập hóa đơn khác với ngày người bán ký số, ký điện tử. Tại hội thảo lấy lý kiến do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, không chỉ có DN, mà cả các đơn vị cung cấp dịch vụ về HĐĐT cũng vướng mắc về vấn đề này. Theo hướng dẫn của TT 68,  thời điểm lập HĐĐT được xác định theo thời điểm người bán ký, ký  điện tử. Như vậy, vướng mắc về thời gian xuất HĐĐT đã được xử lý.

Thứ hai, trong nội dung trên HĐĐT có các ký tự về số, đối với các hóa đơn của DN có yếu tố nước ngoài lập;  ví dụ như các dấu chấm, dấu phẩy… thì TT 68 hướng dẫn rất cụ thể, đó là mã ký hiệu ngoại tệ thì phải theo chuẩn mực quốc tế. Quy định này rất rõ ràng, tránh có những cách hiểu khác nhau.

Một điểm nữa trong nội dung HĐĐT, đó là xác định đối tượng áp dụng HĐĐT thông thường và đối tượng áp dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế. TT 68 đã hướng dẫn rất cụ thể trường hợp có rủi ro về thuế sẽ bắt buộc phải áp dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế. Mặt khác, thông tư cũng hướng dẫn như thế nào là rủi ro về thuế: Đó là DN có vốn chủ sở hữu dưới 15 tỷ đồng, không chứng minh được quyền sở hữu tài sản hợp pháp (nhà máy, kho hàng, hầm mỏ…); DN kinh doanh trong lĩnh vực khai thác tài nguyên; có giao dịch qua ngân hàng có những hành vi đáng ngờ (có dấu hiệu rửa tiền); bỏ địa chỉ kinh doanh… Đây là những tiêu chí rất cụ thể để xác định DN nào thuộc đối tượng rủi ro cao về thuế, từ đó cơ quan thuế thông báo cho DN sẽ phải sử dụng HĐĐT có mã của cơ quan thuế ngay từ đầu. Quy định này rất cụ thể, rõ ràng để các DN thực hiện, tránh những vướng mắc sau này.

Ngoài ra, với những HĐĐT không có chữ ký của người mua cũng được thông tư hướng dẫn rất cụ thể, được liệt kê hóa. Ví dụ, khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho người nước ngoài, hóa đơn điện nước… sẽ không cần chữ ký của người mua; hoặc trong nội dung HĐĐT đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt  thực hiện theo từng phần, từng hạng mục công trình bàn giao; hoặc xây nhà để bán có thu tiền theo tiến độ thì không cần phải ghi cụ thể giá trị công trình hoàn thành bàn giao trên hóa đơn.

Một nội dung khác trong thông tư đã giúp tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, đó là trong trường hợp HĐĐT có sai sót như về địa chỉ, mặt hàng… nhưng không sai mã số thuế thì người bán trao đổi với người mua để sửa đổi nội dung ghi trên hóa đơn, đồng thời thông báo cho cơ quan thuế trên hệ thống, không phải lập lại hóa đơn điều chỉnh như quy định trước đây. Trường hợp ghi sai cả mã số thuế, thuế suất thì hai bên cùng trao đổi và thông báo với cơ quan thuế để hủy hóa đơn, lập lại hóa đơn mới… Có thể nói, việc xử lý hóa đơn có sai sót đối với HĐĐT được hướng dẫn cụ thể hơn trước đây rất nhiều, điều này vừa cải cách giảm thiểu thủ tục hành chính, nhưng cũng đảm bảo được tính chính xác của hóa đơn.

Phương thức và thời điểm chuyển dữ liệu HĐĐT đối với người nộp thuế cũng được quy định cụ thể tại thông tư theo từng đối tượng rất rõ ràng: Chuyển theo bản tổng hợp cùng thời điểm nộp tờ khai thuế GTGT, chuyển trực tiếp… đây là điều DN vẫn đang chờ hướng dẫn.

* PV: Một nội dung mà cộng đồng DN cũng rất quan tâm, đó là thời điểm nào người nộp thuế phải áp dụng HĐĐT? Theo NĐ 119 thì từ 1/11/2020 tất cả các DN phải chuyển sang áp dụng HĐĐT. Luật Quản lý thuế sửa đổi lại quy định từ 1/7/2022 mới phải áp dụng HĐĐT. Vậy thời gian chuyển tiếp này sẽ thực hiện như thế nào, thưa bà?

- Bà Nguyễn Thị Cúc: Đúng là thời hiệu áp dụng HĐĐT hiện nay cũng là một vấn đề DN rất quan tâm. Theo NĐ 119, thì đến 1/11/2020 các DN phải chuyển sang sử dụng HĐĐT. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Quản lý thuế sửa đổi (có hiệu lực từ 1/7/2020), thì điều khoản về HĐĐT, chứng từ điện tử được áp dụng từ ngày 1/7/2022. Cho nên, một số DN đang có ý chờ đợi đến 1/7/2022 mới áp dụng HĐĐT. TT 68 cũng khẳng định lại thời hiệu, thời gian chuyển tiếp, phù hợp với NĐ 119, phù hợp với các nghị quyết của Chính phủ. Ví dụ, đối với người nộp thuế thuộc các địa bàn có hạ tầng công nghệ thông tin tốt (Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…) thì đẩy nhanh áp dụng HĐĐT trước 1/11/2020.

TT 68 (có hiệu lực 14/11/2019) cũng nêu rất cụ thể, đó là sau ngày 14/11/2019 các quy định khác hiện hành về hóa đơn theo Nghị định 51, Nghị định 04 vẫn có hiệu lực thi hành. Nhưng đến 1/11/2020 thì tất cả các văn bản quy định về hóa đơn trước đây sẽ không còn hiệu lực, phải thực hiện theo TT 68.

* PV: Xin cảm ơn bà!


Nhật Minh (thực hiện)
TBTC

 

Tham gia bảo hiểm xã hội và gửi tiết kiệm hay mua bảo hiểm nhân thọ có sự khác biệt rất lớn

 Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, các tính toán cho rằng việc tham gia BHXH để hưởng lương hưu mang lại quyền lợi khi về hưu thấp hơn quyền lợi khi họ gửi tiết kiệm hoặc tham gia BH nhân thọ trong 20 năm là hoàn toàn sai lầm bởi lẽ giữa BHXH và gửi tiết kiệm hay mua BH nhân thọ có sự khác biệt rất lớn:

- Sự khác biệt lớn nhất là ở mục đích: BHXH là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận và quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ nghĩa là không bị phá sản, còn các ngân hàng hoạt động nhằm mục đích sinh lời, là nghề kinh doanh có lời nhất và cũng có thể bị phá sản, trong trường hợp phá sản tiền gửi tiết kiệm có thể bị mất trắng.

- Khi gửi tiết kiệm, người tham gia được hưởng một khoản tiền lãi theo kỳ hạn của tiền gửi, sau thời gian khoảng 2 đến 3 chục năm thì giá trị của khoản tiền gốc còn lại rất ít. Đây là điều ngược lại với BHXH khi tiền đóng BHXH được trả lại bằng việc điều chỉnh tăng theo chỉ giá tiêu dùng (CPI) qua từng năm theo quy định của Chính phủ và trở thành căn cứ để tính lương hưu. Trong thời gian tham gia BHXH khi chết thì thời gian đã đóng BHXH đều được ghi nhận để tính hưởng chế độ tử tuất.

- Khi đã hưởng lương hưu thì mức lương hưu được điều chỉnh định kỳ theo chỉ số giá tiêu dùng và mức tăng trưởng kinh tế. Trong thực tế, gần như hàng năm Nhà nước đều điều chỉnh tăng lương hưu. Chỉ tính riêng cho giai đoạn từ năm 2003 đến nay, Chính phủ nhiều lần điều chỉnh lương hưu với mức tăng từ khoảng 7,5 đến 9,3 lần (tùy theo nhóm đối tượng) so với mức lương hưu tại thời điểm năm 2002. Ngoài ra, trong toàn bộ thời gian hưởng lương hưu người lao động được quỹ BHXH trả kinh phí để cấp thẻ BHYT và được hưởng các quyền lợi về khám, chữa bệnh bình đẳng với mọi người khác mà không phụ thuộc vào mức phí tham gia, loại bệnh... Khi người hưởng qua đời, người lo mai táng còn được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm chết, thân nhân được hưởng chế độ tử tuất (trợ cấp hàng tháng hoặc một lần). Đây là ưu điểm vượt trội của BHXH. Đối với gửi tiết kiệm thì số tiền lãi là mức xác định và giá trị của khoản tiền lãi sẽ ngày càng thấp do tác động của yếu tố trượt giá (lạm phát).

Theo BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

 

Chính sách mới

Giảm lệ phí đăng ký doanh nghiệp từ 20/9/2019

Theo Thông tư số 47/2019/TT-BTC do Bộ Tài chính mới ban hành quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp, từ 20/9/2019, một số mức lệ phí đăng ký doanh nghiệp sẽ giảm khá nhiều so với quy định hiện hành.

Trong đó, mức thu lệ phí đăng ký doanh nghiệp (bao gồm: Cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp) áp dụng từ ngày 20/9/2019 là 50.000 đồng/lần (hiện nay 100.000 đồng/lần).

Thông tư 47/2019/TT-BTC còn quy định giảm phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp xuống còn 100.000 đồng/lần, thay vì mức thu 300.000 đồng/lần như hiện nay.

Hỗ trợ xúc tiến thương mại phát triển ngoại thương

Thông tư 11/2019/TT-BCT của Bộ Công Thương hướng dẫn thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại phát triển ngoại thương thuộc Chương trình cấp quốc gia về xúc tiến thương mại có hiệu lực thi hành từ 16/9/2019.

Thông tư nêu rõ, Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế ở nước ngoài đối với các nội dung sau:

a) Tuyên truyền, quảng bá (Tổ chức giới thiệu thông tin về hội chợ, triển lãm, đoàn doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm...);

b) Tổ chức và dàn dựng khu triển lãm quốc gia (nếu có);

c) Tổ chức, dàn dựng gian hàng gồm thiết kế tổng thể và chi tiết, mặt bằng, dịch vụ điện, nước, an ninh, bảo vệ, vệ sinh, môi trường; trang trí chung;

d) Lễ khai mạc (đối với hội chợ, triển lãm do Việt Nam tổ chức hoặc đồng tổ chức có quy mô từ 100 gian hàng của doanh nghiệp Việt Nam trở lên hoặc tham gia hội chợ, triển lãm ở nước ngoài có quy mô từ 30 gian hàng trở lên);

đ) Công tác phí cho người của đơn vị chủ trì tham gia tổ chức.

Quy mô yêu cầu là Hội chợ, triển lãm đa ngành có quy mô tối thiểu 12 gian hàng và tối thiểu 12 doanh nghiệp tham gia. Hội chợ, triển lãm chuyên ngành có quy mô tối thiểu 06 gian hàng và tối thiểu 06 doanh nghiệp tham gia.

TFC Tổng hợp.

 

Một số nội dung mới của Luật Quản lý thuế 2019:

Luật Quản lý thuế 2019 bổ sung và quy định cụ thể một số nguyên tắc áp dụng trong quản lý thuế như:

Nguyên tắc giao dịch độc lập:

Khoản 24, Điều 3 Luật số 38/2019/QH14 quy định: “Nguyên tắc giao dịch độc lập là nguyên tắc được áp dụng trong kê khai, xác định giá tính thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết nhằm phản ánh điều kiện giao dịch trong giao dịch liên kết tương đương với điều kiện trong giao dịch độc lập.”

Nguyên tắc giao dịch độc lập (nguyên tắc giá thị trường) được thể hiện cụ thể tại các Điều của Luật Quản lý thuế về khai thuế, ấn định thuế, thanh tra thuế ...

Nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế (nguyên tắc bản chất quyết định hình thức):

Khoản 25, Điều 3 Luật số 38/2019/QH14 quy định: “Nguyên tắc bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế là nguyên tắc được áp dụng trong quản lý thuế nhằm phân tích các giao dịch, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế để xác định nghĩa vụ thuế tương ứng với giá trị tạo ra từ bản chất giao dịch, hoạt động sản xuất, kinh doanh đó.”

Nguyên tắc bản chất quyết định hình thức đã được quy định tại Nghị định số 20/NĐ-CP ngày 24/02/2017 quy định về quản lý đối với các doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Khoản 8, Điều 4 NĐ 20/2017/NĐ-CP như sau:

Nguyên tắc Bản chất quyết định hình thức là nguyên tắc nhằm phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của người nộp thuế để xác định bản chất của giao dịch liên kết làm cơ sở đối chiếu với các giao dịch độc lập tương đương, đảm bảo các giao dịch liên kết thể hiện đúng bản chất thương mại, kinh tế, tài chính được tiến hành giữa các bên không có quan hệ liên kết, không để các quan hệ liên kết này chi phối làm sai lệch nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước của người nộp thuế. Nguyên tắc này căn cứ dữ liệu, thực tế thực hiện giao dịch giữa các bên liên kết để so sánh với giao dịch độc lập trong điều kiện tương đồng, không phụ thuộc hình thức của giao dịch được thể hiện trong hợp đồng, văn bản giữa các bên có quan hệ liên kết. Việc xác định bản chất quan hệ kinh tế, tài chính, thương mại của giao dịch liên kết được thực hiện dựa trên so sánh, đối chiếu với các giao dịch độc lập có điều kiện tương đồng.”

Nguyên tắc quản lý theo rủi ro:

Khoản 15, Điều 3 Luật QLT số 38 quy định: “Quản lý rủi ro trong quản lý thuế là việc áp dụng có hệ thống quy định của pháp luật, các quy trình nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả, hiệu lực quản lý thuế làm cơ sở để cơ quan quản lý thuế phân bổ nguồn lực hợp lý và áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả.”

Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế gồm nghiệp vụ thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; phân loại mức độ rủi ro trong quản lý thuế và tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp.

Luật QLT mới có một điều cụ thể về quản lý rủi ro trong quản lý thuế (Điều 9). Tuy nhiên, nguyên tắc quản lý rủi ro được áp dụng thống nhất trong tất cả các khâu của quản lý thuế, bao gồm: (i) Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; (ii) Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; (iii) Không thu thuế; Khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp; Xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; miễn tiền chậm nộp; không tính tiền chậm nộp; gia hạn nộp thuế; nộp dần tiền thuế nợ; (iv) Quản lý thông tin về người nộp thuế; (v) Quản lý hoá đơn, chứng từ; (vi) Kiểm tra thuế, thanh tra thuế, biện pháp phòng chống ngăn chặn vi phạm pháp luật về thuế, trốn thuế; (vii) Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; (viii) Xử lý vi phạm pháp luật về thuế; (ix) Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế; (x) Hợp tác quốc tế về quản lý thuế.

                                                                                                                                                                                                               Nguồn: VTCA Bản tin thuế tuần

 
Trang 1 trong tổng số 12 trang

Liên kết Website








Thăm dò ý kiến

Bạn biết công ty TFC Gia Lai từ đâu ?
 

Thiết kế website, Thiết kế website bán hàng trực tuyến bởi Creativevietnam